9 rủi ro khó tin đối với bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu

1. Sinh non

Theo báo cáo của tạp chí nhi khoa (Pediatrics), trẻ sinh non trước 37 tuần có nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở thời thơ ấu và khi trưởng thành. Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch dẫn đến nghẽn mạch phổi (VTE) là vấn đề nghiêm trọng do một cục máu đông di chuyển tự do, đến một mạch máu nào đó trong phổi và dừng tại đó. Các nghiên cứu Nhi khoa chỉ ra rằng trẻ sinh càng non thì nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch càng nhiều.

Trẻ càng sinh non nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch càng nhiều

2. Các yếu tố rủi ro di truyền

Các nhà nghiên cứu đã đặt giả thiết và nghiên cứu chứng minh về mối quan hệ giữa DVT và các yếu tố di truyền. Một nghiên cứu đăng trong Tạp chí Hematology, Anh cho biết, khoảng một nửa số người bị DVT tham gia nghiên cứu có liên quan tới yếu tố di truyền do thiếu hụt protein C và protein S cũng như yếu tố di truyền V Leiden (là dạng bệnh lý rối loạn di truyền dẫn đến tăng nguy cơ hình thành cục máu đông trong cơ thể). Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Gene cho thấy những người có đột biến di truyền ảnh hưởng đến đông máu thường kết hợp với các đột biến bổ sung làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.

3. Ung thư

Ung thư làm tăng đáng kể nguy cơ huyết khối tĩnh mạch. Theo báo cáo trong Hội thảo về Ung thư học, trong suốt 20 năm qua, bệnh huyết khối tĩnh mạch là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở những người mắc bệnh ung thư. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng bất kỳ nguy cơ cá nhân nào đối với bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu đều phụ thuộc vào các yếu tố bổ sung, chẳng hạn như loại và mức độ ung thư, sức khoẻ tổng thể của người bệnh, chế độ điều trị...

4. Có tổn thương vùng não

Theo những nghiên cứu được công bố từ năm 2013, những người có chấn thương sọ não có thể gây ra các cục máu đông và DVT. Nguy cơ đông máu sẽ tăng lên khi có nhiều thương tích. Ví dụ, những người có chấn thương sọ não và tổn thương các bộ phận khác của cơ thể, sẽ có nguy cơ cao bị đông máu. Các nhà nghiên cứu cho rằng tăng nguy cơ huyết khối trên toàn cơ thể là phản ứng tự nhiên để đáp ứng với khả năng tổn thương não, nhưng chính điều này làm tăng rủi ro mắc DVT sau chấn thương sọ não.

5. Thuốc ngừa thai

Các loại thuốc ngừa thai dạng uống cũng là yếu tố nguy cơ của DVT. Tuy nhiên, rủi ro cụ thể của từng phụ nữ phụ thuộc vào thành phần thuốc dùng cũng như các yếu tố nguy cơ khác như tuổi tác, béo phì... Thuốc ngừa thai có thể làm tăng nguy cơ gấp đôi, nhưng nó không phải là nguy cơ cao nhất do nguy cơ mắc DVT ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là tương đối thấp. Các sản phẩm bổ sung estrogen cũng có thể tăng nguy cơ máu đông.

6. Liệu pháp thay thế hormone

Phụ nữ và nam giới đều có nguy cơ tăng khả năng mắc huyết khối tĩnh mạch nếu họ dùng liệu pháp thay thế hormon. Đối với phụ nữ sử dụng liệu pháp hormon có chứa estrogen sẽ làm tăng nguy cơ mắc DVT theo thời gian. Còn ở nam giới, họ phải đối mặt thêm với nguy cơ tử vong do biến chứng trầm cảm nếu họ dùng liệu pháp thay thế testosterone này.

7. Mang thai và sinh con

Phụ nữ trong thời gian mang thai cũng phải đối mặt với nguy cơ tử vong do tăng huyết khối tĩnh mạch thai kỳ và trong những tuần hồi phục sau sinh.

Khi mang thai, sự lưu thông máu chậm hơn do ít vận động hoặc có chèn ép lên các mạch máu do tử cung mở rộng để nuôi thai là nguyên nhân làm cho máu bị dồn ứ. Chính các lý do này mà bác sĩ cần phải thận trọng trong việc theo dõi phụ nữ mang thai và quá trình hậu sản nếu có các dấu hiệu đông máu.

8. Nằm bất động trong thời gian dài

Cho dù bạn đang ở trong bệnh viện hay nằm liệt giường ở nhà, đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Trong một nghiên cứu khác, xuất bản trên Tạp chí Y khoa Quốc tế về chuyên ngành máu, các nhà nghiên cứu đã xem xét nguy cơ tử vong do tắc nghẽn huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) ở hơn 220 người lớn mắc bệnh mãn tính và phát hiện ra rằng nguy cơ tử vong do tai biến mạch vành tăng ở bệnh nhân phải nằm liệt giường. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những người được chăm sóc tại nhà có ít nguy cơ mắc DVT hơn là ở các trung tâm y tế hoặc trong các cơ sở xã hội.

9. Thiếu vitamin D

Thiếu Vitamin D làm tăng nguy cơ mắc bệnh DVT ở chân

Mặc dù chỉ là nghiên cứu sơ bộ, không đủ vitamin D cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh DVT ở chân. Các nhà nghiên cứu so sánh mức vitamin D ở 82 người có tiền sử DVT không rõ nguyên nhân với mức vitamin D ở 85 người không có DVT. Nghiên cứu cho thấy những người bị DVT có lượng vitamin D thấp trong cơ thể.

Mai Hương

(Theo Everydayhealth 8.2018)

Vắc

Nghiên cứu này có sự tham gia của hơn 14.000 phụ nữ ở 18 nước và phát hiện thấy loại vắc-xin ngừa vi-rút gây u nhú ở người (HPV) Gardasil 9 có thể loại bỏ được phần lớn các trường hợp ung thư cổ tử cung.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO HPV lây truyền qua đường tình dục, gây ra khoảng 266.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới trong năm 2012. Vắcxin Gardasil 9 chống lại 9 kiểu gien HPV gây ra ung thư cổ tử cung, cũng như ung thư âm hộ, âm đạo và hậu môn và mụn cóc sinh dục. Đây là một tiến bộ so với vắc- xin HPV bốn thành phần, Gardasil, nhằm vào hai kiểu gen HPV gây ra khoảng 70% ung thư cổ tử cung và hai kiểu gien khác gây mụn cóc sinh dục. Gardasil 9 nhắm đến bốn kiểu gien và năm loại bổ sung.

Cả hai loại vắc-xin này đều mang tính dự phòng, nghĩa là được dùng trước khi nam hoặc nữ bị nhiễm HPV qua tiếp xúc gần gũi.

Trong nghiên cứu này, phụ nữ được theo dõi về hiệu quả phòng bệnh tới 6 năm sau khi được tiêm mũi đầu tiên. Một nửa số phụ nữ được chủng ngừa bằng Gardasil 4 và một nửa được chủng ngừa bằng Gardasil 9. Họ được theo dõi bằng các xét nghiệm phụ khoa về tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh và huyết thanh được xét nghiệm để phát hiện hàm lượng kháng thể chống HPV. Gardasil 9 cho thấy có hiệu quả 97,4% trong phòng các nhiễm trùng và bệnh gây ra bởi 5 kiểu gien bổ sung HPV không bao gồm trong vắc-xin Gardasil 4. Chủng ngừa Gardasil 9 tạo ra sự bảo vệ kháng thể tương tự chống lại 4 kiểu gien HPV. Hai vắc-xin này cũng có độ an toàn tương tự.

Kết quả của nghiên cứu đã củng cố thử nghiệm về hiệu quả và độ an toàn giai đoạn 3 của Gardasil 9 được công bố trên The New England Journal of Medicine năm 2015. Vắc-xin HPV 9 được cấp phép ở hơn 60 quốc gia để phòng ngừa ung thư bộ phận sinh dục liên quan tới HPV và tiền ung thư, mụn cóc sinh dục. Thử thách tiếp theo là đưa loại vắc-xin mới này vào sử dụng rộng rãi ở phụ nữ trẻ.

BS Thu Vân

(Theo THS)

Ăn gì khi thiếu sắt?

Thời gian gần đây thi thoảng em bị chóng mặt, da xanh có người bảo em bị thiếu máu, thiếu sắt. Vậy xin bác sĩ cho biết nên ăn uống những thực phẩm nào bổ máu?

Lê Đức (Điện Biên)

Ngoài thịt bò và rau có màu xanh thẫm, thì các loại thực phẩm dưới đây cũng giúp bổ sung sắt cho cơ thể, bạn tham khảo và vận dụng cho thực đơn hằng ngày nhé.

Rau chân vịt rất giàu chất sắt.

Hàu: Hải sản vốn dồi dào chất sắt nên thường được xếp vào danh sách những thực phẩm có ích trong việc điều trị bệnh thiếu máu. Trong các loại hản sản, hàu có thể cung cấp 30% chất sắt cơ thể cần chỉ trong 85g.Bên cạnh đó, thịt hàu còn rất giàu axit amin, giúp chống lại mệt mỏi và tăng khả năng miễn dịch của cơ thể. Tuy nhiên, người tì vị yếu, khó tiêu, bị tiêu chảy, người bị đau dạ dày, viêm ruột không được ăn hàu sống. Tốt nhất là nên nấu chín để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.

Rau chân vịt (một loại rau cải): Rau chân vịt là loại thực phẩm có chứa rất nhiều lợi ích sức khỏe, chúng cung cấp ít nhất 10% lượng sắt cơ thể cần trong ngày. Tuy nhiên, vì thành phần axit oxalic dồi dào trong rau chân vịt nên những người mắc các bệnh về thận cần hạn chế ăn loại rau này.

Lạc và các loại hạt: Lạc cùng các loại hạt rất giàu chất béo tự nhiên và có chứa sắt. Hạt thông và hạt vừng đứng đầu trong danh sách các hạt giàu chất sắt. Hãy ăn một vốc hạt mỗi ngày, đặc biệt là những ngày làm việc bận rộn, để cung cấp đủ chất sắt thiết yếu cho cơ thể của bạn.

Ngoài ra, trái cây sấy khô, bột yến mạch, đậu phụ, thịt lợn, tôm…, cũng là những thực phẩm có chứa sắt. Bạn nên thường xuyên kiểm tra sức khỏe để kịp thời bổ sung lượng sắt mà cơ thể cần.

Bác sĩ Hương Trầm

Nên ngồi như thế nào để không bị béo bụng?Nên ngồi như thế nào để không bị béo bụng?Đóng BHXH 6 tháng trở lên, sinh con được hưởng chế độ thai sảnĐóng BHXH 6 tháng trở lên, sinh con được hưởng chế độ thai sảnChuyện hẹn hò của phụ nữ tuổi 30Chuyện hẹn hò của phụ nữ tuổi 30

Hệ lụy của chứng đau mãn tính

Phụ thuộc vào thuốc giảm đau

Thuốc giảm đau được coi là công cụ cực kỳ có giá trị trong cuộc chiến chống lại cơn đau mãn tính. Nhưng một số loại lại có thành phần gây nghiện dẫn đến phụ thuộc về thể chất và tâm lý. Phụ thuộc cơ năng có nghĩa là cơ thể bạn cần thuốc để ổn định và giảm triệu chứng. Mặt khác, phụ thuộc tâm lý sẽ xảy ra khi bạn vẫn muốn nhu cầu về thuốc dù cần thiết hay không, bạn luôn mặc định cần nó để giảm đau.Bên cạnh gặp các rủi ro do dùng thuốc. Ví dụ: aspirin và các thuốc chống viêm không steroid (còn gọi là NSAID) có thể gây kích ứng dạ dày của bạn. Acetaminophen (tylenol) có thể gây tổn hại gan, đặc biệt là khi kết hợp với rượu. Các dòng thuốc gây nghiện có thể gây táo bón. Hãy tìm hiểu những nhược điểm của mỗi loại thuốc, xem kĩ các dấu hiệu cảnh báo và các bước bạn có thể làm để ngăn chặn chúng.

Aspirin và các thuốc chống viêm không steroid (còn gọi là NSAID) có thể gây kích ứng dạ dày

Nguy cơ bị trầm cảm

Đau mãn tính và trầm cảm có một mối quan hệ phức tạp. Cơn đau thường làm cho bệnh trầm cảm nặng hơn, thậm chí còn làm tăng nguy cơ tự tử. Phục hồi cả hai điều này cần có thời gian. Một số loại thuốc có tác dụng cho cả hai vấn đề này cùng lúc nên nhất thiết bạn phải theo chỉ định bác sĩ.

Những khó khăn trong sinh hoạt động hàng ngày

Các loại đau có thể cản trở khả năng làm việc hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác hàng ngày của bạn, chẳng hạn như nấu ăn, đi bộ xuống phố, thậm chí mặc quần áo cũng rất khó khăn. Những hoạt động quen thuộc như vậy cũng có thể làm trầm trọng thêm cơn đau của bạn. Việc đối phó với cơn đau nhức mãn tính có thể khiến bạn không có năng lượng để tập trung vào bất cứ điều gì khác.

Khó ngủ, giấc ngủ không sâu

Thông thường, đau có thể diễn ra vào ban đêm, khiến bạn chệnh choạng và kéo tới ngày hôm sau. Để thoát ra khỏi chu kỳ tiêu cực này, hãy lên lịch trình cho giấc ngủ, đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Ngoài ra, nên tránh những giấc ngủ ngắn sau 15giờ. Hãy khắc phục thói quen này để có được cơn buồn buổi tối bằng cách thực hiện hoạt động cần thiết của bạn như giặt ủi và mua sắm tạp hóa tại thời điểm này trong ngày để giữ cho bạn tỉnh táo.

Tăng cân

Trọng lượng cơ thể dư thừa có thể làm chậm lành vết thương và làm cho một số loại đau tồi tệ

Đau thường gây trở ngại ăn và tập thể dục theo thói quen. Theo thời gian, sự mất cân bằng giữa lượng calories nạp vào cơ thể có thể dẫn đến tăng cân. Đổi lại, trọng lượng dư thừa có thể làm chậm lành vết thương và làm cho một số loại đau tồi tệ hơn. Hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn về việc duy trì một lối sống lành mạnh trong khuôn khổ chứng đau của bạn.

Mai Hương

(Theo Healthguides.healthgrades.com)

Phòng bệnh viêm xoang

Khi mắc bệnh viêm mũi - xoang cấp nếu không được điều trị kịp thời và đúng dễ chuyển thành mạn tính và có nguy cơ tái phát. Vì vậy, phòng bệnh là giải pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe.

Để giữ họng và miệng không bị viêm sẽ hạn chế việc mắc viêm mũi xoang cũng như bệnh viêm xoang tái phát, bởi hệ thống xoang và các bộ phận đường hô hấp trên liên thông với nhau thì cần thường xuyên vệ sinh họng, miệng hàng ngày như đánh răng trước và sau khi ngủ dậy, sau mỗi bữa ăn và súc họng nước muối pha loãng.

Phòng bệnh viêm xoang

​Nội soi để chẩn đoán viêm mũi xoang.

Khi có biểu hiện của viêm mũi, viêm xoang, viêm đường hô hấp cần đi khám. Người bị viêm xoang và viêm xoang tái phát cần thiết điều trị theo đơn của bác sĩ, không nên tự mua thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Ở một số người nhất là trẻ em, niêm mạc mũi xoang nhạy cảm không tắm ở ao hồ dễ bị viêm mũi xoang tái phát.

Trường hợp bị viêm mũi dị ứng, tái đi tái lại nhiều lần, có các biểu hiện như chảy nước mũi, ngạt mũi, điếc mũi do thay đổi thời tiết có thể điều trị và dự phòng bằng cách sử dụng các vị thuốc thảo dược có tính ấm, tính kháng sinh tự nhiên như thương nhĩ tử, kim ngân hoa, phòng phong, bạc hà... để làm ấm cơ thể, tăng sức đề kháng, phòng bệnh viêm mũi viêm xoang khi mùa đông tới.Tránh uống rượu, bia quá nhiều, vì nó làm cho niêm mạc mũi xoang phù nề do vậy rất dễ đưa đến viêm xoang.

Lời khuyên của thầy thuốc

Thời tiết nóng, khi ngủ không nên để quạt điện thốc vào mặt vì hít luồng không khí lạnh, khô dễ mắc bệnh viêm mũi xoang. Khi thời tiết chuyển mùa, chú ý khi buổi sáng dễ nhiễm lạnh, đặc biệt là vùng cổ, ngực và mũi. Tránh ngoáy mũi nhiều thì sẽ gây tổn thương phần tiền đình mũi và niêm mạc mũi.

Uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây và rau xanh: Nước giúp làm loãng niêm dịch nên sự dẫn lưu của mũi xoang tốt hơn, tránh sự ứ đọng bụi bẩn và vi khuẩn. Trái cây và rau xanh cung cấp cho cơ thể nhiều chất chống ôxy hóa và vitamin, giúp hệ miễn dịch của cơ thể mạnh hơn trong phòng chống nhiễm trùng. Người bị viêm mũi dị ứng thường có các triệu chứng hắt xì, chảy mũi, ngứa mũi và nghẹt mũi khi tiếp xúc với dị nguyên, các triệu chứng này có thể quanh năm hoặc theo mùa. Khi đó niêm mạc mũi xoang bị phù nề, tiết dịch, nếu không điều trị tích cực sẽ dẫn đến viêm xoang do bội nhiễm vi khuẩn từ môi trường. Muốn phòng bệnh tốt nhất nên tránh tiếp xúc với dị nguyên đã biết, rửa mũi bằng nước muối sinh lý hằng ngày, khám và sử dụng các loại thuốc chống dị ứng theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa...

Bác sĩ Nguyễn Thị Bích

Làm sao biết suy giáp?

(Hoangthanh270190@icloud.com)

Các dấu hiệu và triệu chứng của suy giáp khác nhau, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của thiếu hụt hormon. Lúc đầu, chỉ có thể nhận thấy các triệu chứng của suy giáp, chẳng hạn như mệt mỏi và chậm chạp hoặc có thể chỉ đơn giản là thuộc tính lớn tuổi. Nhưng khi sự trao đổi chất tiếp tục chậm, có thể phát triển các dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng hơn có thể bao gồm: mệt mỏi, tình trạng trì trệ; tăng nhạy cảm với lạnh; táo bón; khô da; khuôn mặt sưng húp; khàn giọng; mức cholesterol trong máu tăng cao; tăng cân không rõ nguyên nhân; cơ bắp đau nhức, đau và cứng khớp; đau, tê cứng hoặc sưng các khớp xương; cơ yếu; giòn móng tay và tóc; trầm cảm... Khi suy giáp không được điều trị, các dấu hiệu và triệu chứng dần dần có thể trở nên nghiêm trọng hơn. Liên tục kích thích tuyến giáp để phát hành thêm kích thích tố có thể dẫn tới bướu cổ. Ngoài ra, có thể trở nên đãng trí, quy trình nghĩ có thể chậm hoặc có thể cảm thấy chán nản. Suy giáp tiến triển (suy giáp nặng là hiếm), nhưng khi xảy ra nó có thể đe dọa tính mạng. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm hạ huyết áp, khó thở, giảm nhiệt độ cơ thể, lãnh đạm và thậm chí hôn mê. Trong trường hợp cực đoan, suy giáp nặng có thể gây tử vong.

Tốt nhất bạn nên khám ở chuyên khoa hoặc bệnh viện nội tiết để được hướng dẫn điều trị đúng.

BS. Vũ Ngọc Anh

Các dấu hiệu nhận biết bệnh viêm gân

Viêm gân bao gồm : viêm gân bám tận, viêm bao hoạt dịch gân hay gọi là viêm bao gân, hội chứng đường hầm cổ tay và ngón tay lò xo.

Tại sao viêm gân?

Người ta bị viêm gân trong các trường hợp: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, rối loạn chuyển hóa; Thoái hóa gân do tuổi già; Các hoạt động quá mức do nghề nghiệp, chấn thương trực tiếp, co cơ quá mức, đột ngột, cử động sai tư thế, vi chấn thương...

Mắc bệnh viêm gân khi

Đau ở vị trí gân bị tổn thương, đau khu trú tại chỗ, ít lan xa, đau liên tục cả ngày và đêm, đau tăng khi cử động. Vùng tổn thương có thể đỏ và sưng nề, ấn tại chỗ rất đau, làm các động tác co cơ chủ động của gân làm đau tăng lên. Một số viêm gân cụ thể, được nhận biết tùy theo triệu chứng mà viêm gân gây ra như sau:

Viêm gân bám tận của cơ bám vào đầu xương: Một số gân quanh vùng bám tận có các túi hoạt dịch, với nhiệm vụ làm đệm, ngăn cách gân với nền xương và các gân lân cận khác. Tổn thương ở phần màng ngoài xương, gọi là viêm cốt mạc ngoài gân, tổn thương ở phần thanh dịch thì gọi là viêm túi thanh dịch, thực tế khó phân biệt hai loại viêm này nên gọi chung là viêm gân bám tận.

Viêm bao gân: Một số gân dài khi đi qua các vị trí đặc biệt, nhất là khi gân đổi hướng, có một bao hoạt dịch bọc lấy, đóng vai trò như một ròng rọc cố định đường đi của gân. Bao gân có cấu trúc giống như màng hoạt dịch, ở giữa có dịch nhầy, nếu bị tổn thương sẽ gây cản trở hoạt động của gân.

viem-gan-banh-cheViêm gân bánh chè.

Viêm bao gân vùng mỏm châm quay: (hay) còn gọi là bệnh De Quervain: Về giải phẫu, vùng mỏm châm quay có một bao hoạt dịch bọc chung hai gân của cơ dạng dài và dạng ngắn ngón tay cái. Bệnh gây sưng và đau bờ ngoài mỏm châm quay, đau tăng khi cử động ngón cái, nhất là động tác duỗi. Khám thấy vùng mỏm châm quay hơi nề, ấn vào đau, chống lại động tác duỗi ngón cái. Bệnh hay gặp ở phụ nữ làm việc bằng tay nhiều như giặt, xách, dệt, đan...

Hội chứng đường hầm cổ tay: Vùng cổ tay phía trước có các gân gấp chung các ngón tay và gấp riêng ngón cái chui qua một đường hầm mà phía sau là khối xương cổ tay, phía trước là một vòng xơ. Bao bọc hai gân là hai bao hoạt dịch, ở chính giữa đường hầm là dây thần kinh giữa. Khi đường hầm bị viêm sẽ chèn ép dây thần kinh giữa gây ra hội chứng đường hầm cổ tay rất giống với những dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh ở lỗ tiếp hợp cột sống cổ. Hội chứng gồm các triệu chứng: dị cảm, tê bì như kim châm, đau buốt, hạn chế vận động và rối loạn dinh dưỡng ở bàn tay và các ngón tay trong khu vực chi phối của thần kinh giữa như tê và đau buốt ở đầu các ngón tay 1,2,3. Tê và đau gan bàn tay, đau tăng lên về ban đêm. Khám có thể thấy vùng cổ tay hơi sưng. Cảm giác nông các ngón tay 1,2,3 giảm rõ rệt. Nếu duỗi bàn tay hết cỡ, dùng búa phản xạ gõ vào cổ tay thấy tê và đau các ngón 1,2,3. Dùng dây garo quấn phía trên cổ tay, sau thời gian ngắn thấy đau và tê các ngón tay 1,2,3. Bệnh thường xảy ra sau viêm khớp dạng thấp (thường thấy cả hai bên), chấn thương vùng cổ tay, một số nghề nghiệp phải sử dụng nhiều cổ tay như ép, vặn, quay...

Ngón tay lò xo: Đặc điểm cấu tạo giải phẫu là gân gấp các ngón tay đi từ bàn tay vào ngón thường chui qua các vòng dây chằng để cố định đường đi. Nếu các dây chằng này bị viêm hay gân gấp bị viêm nổi cục thì di động của gân gấp bị cản trở, làm khó duỗi ngón tay, lúc đầu phải cố gắng mới bật ra được giống như lò xo, về sau không tự bật ra được mà phải cần có trợ giúp.

Viêm gân gót Achille: Thường xảy ra sau khi mắc bệnh viêm khớp dạng thấp, phần lớn là do vận động quá mức bàn chân. Triệu chứng sưng đau vùng gót chân, gân gót sưng rõ, sờ có thể thấy nổi cục, ấn vào đau, làm động tác gấp duỗi bàn chân có lực cản thì đau tăng.

Viêm gân Achilles.

Các phương pháp điều trị:

Điều trị nội khoa: Tại chỗ đau xoa các loại thuốc mỡ nhóm non-steroid như methyl salicilat, profenid, voltaren. Trường hợp nặng có thể tiêm vào bao gân hydrocortisol. Các thuốc dùng đường uống ít có hiệu quả.

Phẫu thuật nếu gân bị dính gây cản trở vận động, giải phóng dính trong hội chứng đường hầm cổ tay, ngón tay lò xo.

Các phương pháp vật lý trị liệu: Nhiệt nóng như dùng paraffin, túi chườm, hồng ngoại, sóng ngắn, điện di novocain hay salicilat tại chỗ.

Để phòng bệnh cần điều trị tích cực bệnh viêm khớp dạng thấp. Khởi động tốt các khớp trước khi vận động. Hạn chế các chấn thương tác động lên vùng cổ tay, gót chân, xử lý tốt các trường hợp bong gân do chấn thương, do lao động...

ThS. Trần Ngọc Hương